$hide=home

$show=/p/life.html$type=sticky$c=4$a=0$m=0

$show=/p/life.html$type=blogging$c=7$a=0$m=0$pages=1

$show=/p/trip.html$type=sticky$c=4$a=0$m=0

$show=/p/trip.html$type=blogging$c=7$a=0$m=0$pages=1

$show=/p/veg.html$type=sticky$c=4$a=0$m=0

[QUÁN CHAY]$show=/p/veg.html$type=carousel$c=4$a=0$m=0

$show=/p/veg.html$type=blogging$c=7$a=0$m=0$pages=1

$show=/p/gdpt.html$type=slider$c=4$a=0$m=0

[CHUYÊN MÔN]$show=/p/gdpt.html$type=sticky$c=4$a=0$m=0

[TÀI LIỆU]$show=/p/gdpt.html$type=three$c=3$h=300$m=0$sn=0$rm=0

$show=/p/gdpt.html$type=blogging$c=7$a=0$m=0$pages=1

$show=/p/buddhism.html$type=slider$c=4$a=0$m=0

[THỜI SỰ]$show=/p/buddhism.html$type=sticky$c=4$a=0$m=0

[PHẬT PHÁP]$show=/p/buddhism.html$type=carousel$c=4$a=0$m=0

$show=/p/buddhism.html$type=blogging$c=7$a=0$m=0$pages=1

Hình ảnh bạo động và tinh thần từ bi, bất bạo động của Đức Phật

SHARE:

1. Tranh chấp giữa hai nước Sakya và Koliya [1]
Minh-Thiện Trần-Hữu-Danh soạn

Trước mùa an cư bốn tháng, tức vào tháng Jetthamula, bỗng xảy ra sự xích mích giữa hai xứ Sakya và Koliya về dòng sông Rohini, ranh giới giữa hai xứ. Sakya là quê nội của Phật. Koliya là quê ngoại của Phật và cũng là quê hương của công chúa Yasodhara.

Số là năm ấy trời hạn hán, không có mưa, nên mực nước sông Rohini rất thấp, không đủ cho nông dân hai bên bờ sông dùng. Ðại diện nông dân bên xứ Koliya bảo:

- Nước sông Rohini năm nay ít quá, không đủ cho cả hai bên dùng. Nhưng lúa phía chúng tôi sắp chín rồi. Vậy quý vị hãy để cho chúng tôi dùng nước trước, đến khi lúa chín rồi sẽ tới phiên quý vị.

- Lúa bên phía chúng tôi cũng đang lúc cần nước. Ðợi đến khi lúa bên phía quý vị chín rồi thì lúa phía chúng tôi đã quá mất sức, lúc ấy nước sông cũng đã cạn. Chúng tôi sẽ phải đi qua đó xin ăn thôi. Hãy để chúng tôi dùng nước trước rồi quý vị hãy dùng sau.

Lời qua tiếng lại một hồi đi đến chỗ nặng lời:

- Chúng bây có đói thì kéo nhau về Kapilavastu mà xin ăn. Ðồ quân gì mà anh chị em lấy nhau như chó[2].

- Chúng bây nói ai là chó? Chúng bây là quân cùi hủi sống trong rừng như thú vật[3].

Từ thương thuyết đến tranh cãi nặng lời, rồi đến đắm đá. Cuối cùng binh đội hai nước dàn trận hai bên bờ sông. Tình thế trở nên gay cấn, sắp xảy ra chiến tranh.

Ðức Phật đang ngụ tại giảng đường Trùng-Các (Kutagara) ờ Ðại Lâm (Mahavana), hay tin, vội tức tốc đến nơi để dàn xếp cuộc tranh chấp. Hỏi các vị tướng chỉ huy quân đội hai bên thì họ nói rằng phía bên kia khinh người, xâm phạm ranh giới và tài sản bên này. Không ai nói đến lý do thật sự của cuộc tranh chấp. Mãi đến khi Phật nói chuyện với các nông dân chất phác mới biết nguyên nhân chính là do thiếu nước tưới vào ruộng rẫy hai bên bờ sông.

Nhờ có thân tình với cả hai bên, đức Phật sắp xếp cuộc gặp gỡ giữa các vương tử đại diện cho hai xứ Sakya và Koliya để thảo luận và tìm biện pháp hòa giải. Phật nói:

- Này quý vị vương tử, sở dĩ nước sông Rohini năm nay yếu kém là vì trời ít mưa. Vài tháng nữa, đến mùa mưa, mực nước sông sẽ trở lại như cũ thì cả dân chúng hai bên bờ sông đều có đủ nước dùng. Nếu để xảy ra chiến tranh thì chẳng những binh lính hai bên phải chết hoặc bị tàn phế thảm thương mà dân chúng và ruộng vườn của cả hai bên cũng sẽ bị thiệt hại không thể lường trước được. Này quý vị, quý vị thử nghĩ xem mạng sống của quý vị, của binh lính, của dân chúng là quan trọng hay nước sông Rohini và ruộng vườn là quan trọng?

- Bạch Thế Tôn, mạng sống của con người tất nhiên đáng quý trọng hơn.

- Ðúng thế! Vậy Như Lai khuyên quý vị nên tìm biện pháp hòa giải để tạm thời chia nước sông Rohini ra đồng đều cho dân chúng hai bên bờ sông đều có nước dùng tạm. Chiến tranh thường chỉ gây chết chóc, hận thù, chứ không bao giờ mang đến một giải pháp tốt đẹp, kể cả đối với người thắng trận.

Này quý vị, chúng ta sẽ được hạnh phúc bằng cách gạt bỏ hận thù khi sống giữa đám người thù hận (Pháp Cú, bài 197); chúng ta sẽ được hạnh phúc nếu biết sống lành mạnh giữa đám người bệnh tật(Pháp Cú, bài 198); chúng ta sẽ được hạnh phúc nếu biết sống thanh tịnh giữa đám người đầy tham vọng (Pháp Cú, bài 199). Thắng lợi sinh thù oán, thất bại chịu khổ đau, người không tranh thắng bại, sống an lành hạnh phúc (Pháp Cú, bài 201).

Nghe xong, 250 vương tử xứ Sakya và 250 vương tử xứ Koliya xin xuất gia theo Phật. Do sự can thiệp của Phật mà hai bên đã đi tới một sự thỏa thuận về vấn đề phân chia nước tưới cho dân chúng hai bên bờ sông Rohini trong khi chờ đợi mùa mưa tới. Các vị vương tử rút binh về triều, thuật lại lời Phật giảng hòa cho vua Suddhodana, vua Suppabuddha, triều thần và vợ con của họ nghe. Hai xứ Sakya và Koliya tái lập bang giao thân tình như cũ.

2. Đức Phật ngăn chặn cuộc chiến của Thái tử Tỳ Lưu Ly đem quân tàn sát dòng họ Thích Ca
Sư Ông Làng Mai (HT Thích Nhất Hạnh) - dịch từ Hán Tạng và tiếng Pali  - theo langmai.org

Bối Cảnh

Đây là kinh Duy Lâu Lặc Vương. Duy Lâu Lặc Vương là tên của vua Tỳ Lưu Ly (Virudhaka), người kế vị vua Ba Tư Nặc. Khung cảnh dựng lên: Vua Tỳ Lưu Ly đem quân đánh Ca Tỳ La Vệ và tàn sát dòng họ Thích Ca vì hận thù. Ngày xưa vua Ba Tư Nặc đã rước một tỳ nữ xinh đẹp của vua Mahanam, người kế vị vua Tịnh Phạn, về làm cung phi. Vị này thuộc giai cấp thấp của xã hội. Hồi còn trẻ, Thái tử Tỳ Lưu Ly đã được gửi qua Ca Tỳ La để học về nghệ thuật bắn cung. Lúc ấy dòng họ Thích mới xây dựng được một hội trường rất đẹp để mỗi lần Phật tới thì đón tiếp và giảng dạy ở đấy. Luật lệ đặt ra là Phật và chư vị xuất sĩ được rước vào trước, sau đó mới tới giới chức chính quyền và các tầng lớp dân chúng.

Tỳ Lưu Ly tự ý đi vào đấy với các bạn và không tôn trọng luật lệ kia. Sau khi Tỳ Lưu Ly về nước, dân chúng làm lễ tẩy tịnh hội trường cho hội trường thanh tịnh trở lại, vì nghĩ rằng Tỳ Lưu Ly, dòng dõi của một nữ tỳ, đã làm ô uế chỗ linh thiêng. Sau này Tỳ Lưu Ly biết được chuyện ấy, rất căm phẫn, nuôi ý một ngày đem quân tới trả thù.

Cuộc tàn sát đẫm máu của Vua Tỳ Lưu Ly đã gây bao nhiêu tang tóc và thảm thương. Bụt đã tìm mọi cách để ngăn cản nhưng cuối cùng cũng không ngăn cản được. Bụt nói kinh này về hận thù, bạo động và sợ hãi.

1. Hãy lắng nghe và quán sát để thấy tại vì sao mà từ trạng thái an lành người ta đã đưa xã hội tới tình trạng đầy khủng bố bạo động như hiện nay? Các thế hệ vừa qua đã hành xử như thế nào để tình trạng trở thành như thế? Tôi muốn nói với các vị về chuyện đau thương này và kể cho quý vị nghe làm sao mà tôi đã buông bỏ được tâm trạng sợ hãi của tôi.

2. Người đời trải nghiệm từ cái khổ này đến cái khổ khác, như con cá sống trong một nơi mà ở đó càng ngày nước càng khô cạn. Trong hoàn cảnh khổ đau, ý tưởng bạo động dễ nẩy sinh và con người vì u mê cứ đi tìm sự bớt khổ bằng những phương tiện khủng bố và trừng phạt.

3. Cả thế giới đều đang bốc cháy vì bạo lực, mười phương loạn lạc cả mười phương, không có nơi nào thực sự còn an ổn. Ai cũng cho mình là hơn người, ít ai biết buông bỏ cái đam mê của mình. Vì không thấy được sự thực ấy, cho nên con người cứ ấp ủ mãi cái tri giác sai lầm của mình.

4. Tự trói buộc mình bằng những tri giác sai lầm ấy người ta chỉ đem lại thêm cho mình nhiều tối tăm và thống khổ. Tôi đã nhìn sâu vào trong tâm ý của những người không có hạnh phúc và tôi đã thấy một mũi dao nhọn được che dấu dưới những niềm thống khổ của họ. Vì chính họ không trông thấy mũi dao nhọn ấy trong tâm, cho nên họ khó có khả năng chịu đựng được niềm đau.

5. Cái niềm đau gây ra do mũi dao nhọn ấy kéo dài, không thay đổi, và vì cứ tiếp tục ôm lấy mũi dao nhọn ấy mà đi cho nên họ đã làm cho niềm đau trong họ tràn ngập thế giới. Chỉ khi nào có cơ hội nhận diện được nó và lấy nó ra khỏi trái tim thì khổ đau mới không còn và mình mới có cơ hội dừng lại.

6. Trong số những hệ lụy của cuộc đời, mình đừng để cho tự thân vương vấn vào bất cứ một hệ lụy nào. Những gốc rễ của tà loạn phải biết cắt đứt. Phải buông bỏ đừng nương vào chúng nữa. Nếu buông bỏ được tà dục thì ta có thể vượt qua mọi khổ nạn. Kẻ hành giả phải vượt ra khỏi cái vòng khổ nạn thì mới thành tựu được sự nghiệp giải thoát cho chính mình.

7. Kẻ hành giả chân chính phải có tâm dạ chí thành, đừng tự hành động dựa trên vọng tưởng, cứ đường thẳng mà đi, không nói lưỡi hai chiều. Phải biết cách dập tắt ngọn lửa của sự hờn giận, phải biết cách làm tan vỡ khối tham vọng của mình. Nếu biết cởi bỏ được những ràng buộc của phiền não thì mình có thể bắt đầu thấy được bến bờ giải thoát.

8. Nên buông bỏ sự tự hào, đừng ham ngủ, đừng để chìm vào trạng thái hôn trầm. Biết sống và làm việc cho có chừng mực, đừng đánh mất mình trong đám đông. Đừng vướng vào những cái bề ngoài hào nhoáng. Phải biết từ khước chúng. Phải quán chiếu thường xuyên cái tự tánh không của vạn pháp để đạt tới Niết Bàn tĩnh lặng.

9. Đừng nhục mạ ai, cũng đừng để mình bị níu kéo và vướng mắc vào những hình sắc dối gạt bên ngoài. Đừng dấn mình trong những cuộc vui mà quên đi mục đích của sự hành trì là giải cứu khổ nạn.

10. Những gì thuộc về quá khứ, đừng nghĩ tới chúng nữa. Những gì thuộc về tương lai, đừng vọng tưởng đến chúng. Những gì đang xảy ra trong hiện tại phải được nhận diện để đừng bị vương vấn vào. Cứ như thế thênh thang bước một mình khắp năm châu bốn biển mà không còn bị ai ganh ghét.

11. Tôi nói rằng tham dục là mãnh lực gây ra tàn hại nhiều nhất. Đó là cơn lũ lụt làm tràn ngập cả thế gian. Thấy được điều đó thì mới chế phục được mọi nghi ngờ. Cần để tâm quán chiếu về lý duyên khởi. Phải thấy được rằng nếu không thoát ra được cái ô nhiễm của tham dục thì ta khó mà chấm dứt được khổ đau.

12. Trong đám đông, số người có năng lực buông bỏ tham dục rất ít, thời đại nào cũng thế. Nhưng một khi đã buông bỏ được rồi thì kẻ hành giả lại không cảm thấy mất mát gì, cũng không có nhu yếu di chuyển tới một nơi nào khác: cơn lũ lụt kia tự nó sẽ cáo chung và không có gì còn ràng buộc được ta nữa.

13. Nương vào sức mạnh của tuệ giác làm cỗ xe, vị mâu ni vượt tới bờ bên kia. Nhờ có tuệ giác, vị ấy không còn lo lắng và thấy mình đang được bảo hộ. Sinh tử, tai ách và sự ganh ghét không còn xâm phạm tới vị ấy được. Do sức mạnh của tinh tiến, vị ấy đạt được bình an thật sự.

14. Đã xa lìa được (tham dục) thì khổ đau không còn tồn tại, người hành giả quán chiếu về tự tánh không của vạn pháp, không còn vướng bận vào bất cứ một pháp nào. Đã trực tiếp thấy được con đường lớn đưa tới an bình rồi, người ấy không còn vướng vào bất cứ một quan điểm nào của thế gian nữa.

15. Khi hành giả không còn chấp rằng thân này là mình, thấy được tính cách không thể nắm bắt và không thật sự tồn tại của một cái ngã thì vị ấy không còn gì để lo lắng nữa.

16. Khi gốc rễ của si mê đã được nhổ lên và khi những cây non của si mê mới mọc lên cũng đã bị nhổ sạch không còn có cơ hội lớn lên, thì trong hoàn cảnh hiện tại, người hành giả không còn nắm bắt một cái gì nữa và không còn có nhu yếu phân biệt ai là đồng minh ai là kẻ thù.

17. Khi đã không còn bị kẹt vào các khái niệm tâm và vật (như những gì tồn tại ngoài nhau), khi đã không còn bị kẹt vào các ý niệm, khi đã không thấy có gì có thể nắm bắt, khi đã thấy được rằng không gian và vật thể là không, thì không có gì trong thế gian còn có thể làm cho vị ấy oán than buồn giận nữa.

18. Đã vượt được hoàn toàn cái ý niệm về tất cả trong đó có ý niệm về vật thể thì trong tất cả các pháp hành không pháp nào mà mình không đạt được. Đã được học hỏi, thực tập và thuyết giảng thông thạo được giáo lý vô dục thì dù có bị bất cứ ai đến chất vấn, vị ấy cũng không còn cảm thấy e ngại trong việc ứng đối.

19. Đã đạt được tuệ giác rồi, vị ấy không cần lệ thuộc vào ai nữa cả. Vì không còn mong cầu gì nữa và cũng không còn ghét bỏ gì nữa cho nên vị ấy đạt được sự bình an trong tâm hồn và thực chứng được Niết Bàn tịch tĩnh.

20. Nhìn xuống không thấy hãnh diện, nhìn lên không thấy sợ hãi, vị Mâu ni an trú nơi tự tính bình đẳng, không còn bị vướng vào một kiến chấp nào. Bấy giờ tất cả mọi tranh chấp đều đã được ngưng lại, oán thù và tật đố không còn có mặt, vị ấy tuy đứng trên tuệ giác mà chẳng thấy mảy may tự hào.

Đại Ý

Kinh này cung cấp những câu trả lời thiết thực cho tình trạng thế giới hiện tại, đầy hận thù, bạo động, sợ hãi và khủng bố. Kinh này rất có tính cách hiện đại. Chúng ta sống trong một thời đại có quá nhiều bạo lực và hận thù, không gian thảnh thơi an lành càng ngày càng bị thu hẹp lại, thật giống như tình trạng của một con cá càng lúc càng thiếu nước. Đò là hình ảnh đưa ra trong bài thi kệ thứ hai. Bụt đã nói kinh này từ kinh nghiệm bản thân của Ngài. Ngài nói ra sự thật muôn đời mà bây giờ ai cũng thấy: trong hoàn cảnh khổ đau bức xúc, ý tưởng bạo động dễ nẩy sinh, và con người u mê cứ đi tìm sự bớt khổ bằng những phương tiện khủng bố trừng phạt.

“Cả thế giới đang bốc cháy vì bạo lực, mười phương loạn lạc cả mười phương, không có nơi nào thực sự còn an ổn.” Bài kệ thứ ba nói tới hận thù, đam mê và vô minh như những yếu tố căn bản làm phát sinh bạo động.

Cái ham muốn và cái sợ hãi đi đôi với nhau. Ngay từ lúc lọt lòng mẹ ta đã có sự sợ hãi về cái ham muốn ấy: sợ chết, sợ bỏ rơi, sợ không ai chăm sóc, và ham sống, ham có người để nương tựa, ham có đủ những phương tiện để sống còn, để khỏi chết. Tất cả những ham muốn và sợ hãi sau này đều đã phát sinh trên cái ham muốn và sợ hãi nguyên thủy ấy. Tham vọng, hận thù và sợ hãi là con dao nhọn trong tâm người. Chừng nào chưa lấy được con dao nhọn ấy ra thì chừng đó con người còn lo sợ, còn khổ đau và làm cho thế giới tràn ngập khổ đau. Hình ảnh lưỡi dao nhọn trong trái tim cất dấu dưới những lớp khổ đau và tham vọng là hình ảnh nổi bật nhất trong kinh. Hình ảnh ấy nằm ở bài thi kệ thứ tư và thứ năm.

Các bài thi kệ thứ tám và thứ chín nhấn mạnh về sự thực tập đừng lên án ai, đừng nhục mạ ai và khi bị lên án hay nhục mạ thì phải quán chiếu để đừng bị tổn thương. Bị tổn thương thì lập tức con dao nhọn sẽ phát sinh trong tâm, đưa đến hành động hận thù và trách phạt.

Muốn lấy con dao nhọn trong tâm ra, ta phải thực tập nhìn sâu. Bài thi kệ thứ mười lăm nói đến tuệ giác vô ngã như yếu tố căn bản đưa tới buông bỏ lo lắng và hận thù: Tri giác sai lầm (vô minh) là gốc rễ của mọi hiềm hận. Chứng được vô ngã thì buông bỏ được mọi mặc cảm, mọi tư kiến, do đó mọi hiềm hận sẽ bị tiêu tan. Những kẻ khủng bố không sợ chết, sẵn sàng chết là vì hai lý do: thứ nhất là họ cho họ có chân lý, và chết vì chân lý là một cái chết đẹp, thứ hai là họ rất muốn trừng phạt những kẻ đã kỳ thị họ, đã xem thường họ, những kẻ này đã làm tổn thương tự ái của họ. Buông bỏ tư kiến và tự hào là sự thực tập căn bản của kinh này để giúp ta lấy con dao nhọn trong trái tim ra.

Tự độ xong rồi, mình mới có thể giúp được kẻ khác. Sau khi mình đã lấy được con dao nhọn trong trái tim của mình ra rồi thì mình mới có khả năng giúp kẻ khác làm như thế. Có tuệ giác, có tình thương ta mới làm được việc này. Mà khi ta đã có tuệ giác và tình thương, ta sẽ áp dụng các pháp môn ái ngữ và lắng nghe để giúp cho kẻ kia điều chỉnh những tri giác sai lầm trong họ, để họ hết bị tổn thương và tự ái, để họ không còn ý chí muốn trừng phạt, để họ lấy ra được con dao nhọn trong tâm của họ. Diệt trừ khủng bố ta không thể sử dụng đe dọa, trừng phạt và bạo động. Còn sử dụng những phương tiện ấy thì ta còn làm cho hận thù và bạo động tăng trưởng, và thế giới càng ngày càng trở nên khó sống như con cá càng ngày càng thiếu nước. Chỉ với các phương tiện ái ngữ và lắng nghe với tâm từ bi ta mới có thể giải trừ hận thù và bạo động.

Kinh này là một pháp bảo vô giá cần được phổ biến và đem ra thực tập trong môi trường gia đình, học đường, sở làm và trên lĩnh vực ngoại giao quốc tế.

3.  Đề Bà Đạt Đa sát hại Đức Phật bất thành

Cuộc đời hành hoá của đức Phật không phải chỉ có thuận duyên mà vẫn có nghịch duyên gây khó cho sự giáo hoá của Ngài. Những nghịch duyên này đã xảy ra từ bên ngoài Tăng đoàn cho đến cả bên trong Tăng đoàn từ những nhà ngoại đạo cho đến cả đệ tử.

Trong những hàng đệ tử có Đề-bà-đạt-đa là người thường hay gây khó khăn cho đức Phật nhất. Ông vừa là đệ tử ở trong tăng đoàn vừa là thân quyến của đức Phật. Ông là em con chú của đức Phật khi còn là thái tử. Ông xuất gia cùng với Ngài A-nan-đà và các hoàng thân dòng Thích-ca. Tỳ-kheo Đề-bà-đạt-đa không chứng thánh quả nào nhưng có nhiều phép thần thông. Ông được Vua A-xà-thế ủng hộ và đã cất cho ông một tu viện riêng. Những ngày đầu xuất gia ông là một Tỳ-kheo gương mẫu chính ngài Xá-lợi-phất đã ca ngợi tài đức của ông. Nhưng về sau vì lợi danh làm mù quáng ông lại ganh tỵ tự đặt mình là kẻ đối nghịch với đức Phật. Thần thông của ông bị mất hết khi lòng sân hận phát sinh.

Đề-bà-đạt-đa dù vậy cũng có rất đông đệ tử, có người đã sùng bái ông hơn cả Ngài Xá-lợi-phất. Ông đã dành quyền lãnh đạo giáo hội Tăng già trước khi đức Phật tuổi đã cao. Đức Phật không thuận, Đề-bà-đạt-đa lấy làm tức giận và quyết trả hận. Sau đó Đề-bà-đạt-đa cùng với Thái tử A-tư-đà-xa-thế âm mưu sát hại Phật. Ông A-xà-thế giết cha đoạt ngai vàng, còn ông thì giết đức Phật để nắm quyền lãnh đạo giáo hội Tăng già. A-xà thế đã thành công giết cha trong khi vua cha là người có tâm đạo. Riêng Đề-bà-đạt-đa thì mướn người đi giết Phật. Nhưng Đề-bà-đạt-đa không thực hiện được ý đồ vì ở trước Phật họ bị từ lực của Phật cảm hoá nên đã quy y với Ngài.

Đề-bà-đạt-đa quyết tâm ra tay giết hại Phật. khi Phật di bên sườn núi, ông từ trên cao lăn đá xuống ngay đức Phật để đè ngài chết. Nhưng không, tảng đá bị va chạm bể ra nhiều mảnh, đức Phật chỉ bị một miếng vụn rơi nhẹ vào chân chảy máu chút ít.

Một lần khác Đề-bà-đạt-đa mưu hại Phật bằng cách cho voi uống rượu mạnh thật say rồi thả nó chạy đến đức Phật. Ngài A-nan hoảng sợ hy sinh đứng chắn trước Phật để cứu Ngài, nhưng bằng từ lực của Phật đã cảm hoá được con voi say.

Đề-bà-đạt-đa giết phật nhiều lần không được, lòng ghen hờn ngã mạn của ông cộng với tính xảo trá đã mưu toan gây chia rẽ tăng đoàn. Những hành động của ông quá lộ liễu, xấu xa đầy tội lỗi, khiến cho vua A-xà -thế cũng phải chán bỏ. Với sự khôn ngoan khéo léo của ông cũng đã dần dụ được một số Tỳ-kheo thấp kém thiếu hiểu và những vị mới xuất gia không rành giáo pháp bỏ Phật đi theo ông đến Gayaxixa. Ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên phải đến đó để giải thích làm sáng tỏ giáo Pháp của Phật Đà và dẫn các vị ấy về lại với Phật.

Đề-bà-đạt-đa tội lỗi ngập tràn tâm tham sân bất định nên lâm trọng bệnh. trước khi lìa đời ông mới thật sự ăn năn hối lỗi và mong muốn ý kiến đức Phật, nhưng ông không được gặp Phật, Tuy vậy đến giây phút cuối cùng ông cũng đọc được câu qui y Phật.

4. Đức Phật độ Vô Não

Câu chuyện Phật độ chàng Vô Não viết: “Tại Xá Vệ có chàng Vô Não, sau khi cuồng tín theo tà giáo, chàng trở nên một kẻ sát nhân gây khủng khiếp cho dân bản xứ. Vì nghe lời dèm xiểm của các bạn chàng, thầy chàng bảo tìm giết một trăm người cắt ngón tay mang vào cổ đem về ông ta sẽ truyền phép mầu nhiệm cho. Theo lời thầy dạy, chàng đến rình một nơi hẻo lánh hoặc ở mé rừng, hễ ai đi lẻ loi đều bị chàng giết chết. Chàng đã giết được chín mươi chín, còn thiếu một người nữa để giết thì gặp mẹ chàng đi tới. Chàng xông xáo chạy tới để giết thì thình lình đức Phật ở đâu hiện tới, chàng liền đổi ý chạy theo Phật để hạ sát. Chàng chạy như tên bay mà không kịp. Tức mình chàng kêu to: “Kìa ông Sa môn ! Sao ông không dừng chân lại ?”. Đức Phật đáp: “Này Vô Não, Như Lai dừng bước đã lâu rồi chỉ có ngươi chưa chịu dừng bước đó thôi”. Vô Não hỏi lại: “Ông nói ông đã dừng bước sao tôi chạy theo mãi không kịp. Ông là người nói dối”. Phật đáp: “Như Lai đã dừng bước trên con đường tội lỗi, Như Lai đã trút bỏ gươm giáo từ lâu rồi”. Vừa nghe được bấy nhiêu lời, Vô Não chợt tỉnh mộng điên cuồng hối ngộ, liệng dao quỳ lạy trước Phật, xin Phật ra tay tế độ”

5. Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp thả rắn độc giết Phật

Giáo chủ thờ thần rắn là Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp thả rắn độc giết Phật, vẫn không hại được Ngài, mà voi và rắn còn phủ phục dưới chân Đức Phật. Đức Phật bình yên đối trước tình huống không yên chút nào, vì đã có lực bảo vệ của thế giới siêu hình, gần nhất là có Thiên long bát bộ đối phó, bảo vệ Ngài. Vòng ngoài bảo vệ Đức Phật an toàn như vậy, còn chính bản thân Đức Phật vẫn luôn an nhiên tự tại, vì với huệ nhãn, Ngài thấy rõ tất cả mọi việc đều được giải quyết ổn thỏa; có người gây rối thì cũng có người đến bảo vệ Ngài.

6. Gả con gái cho Đức Phật

Khi Phật còn tại thế, có ông Bà La Môn sanh một cô con gái.Lớn lên, cô đẹp tuyệt trần, như trong Cung Oán Ngâm Khúc diễn tả:

Chìm đáy nức cá lờ đờ lặn
Lửng da trời nhạn ngẩn ngơ sa
Hương trời đắm nguyệt say hoa
Tây Thi mất vía Hằng Nga giựt mình.

Ông Bà La Môn thấy con cái ông xinh đẹp nên ông ước nguyện, “Ở trên đời này có chàng trai nào xinh đẹp như con ông thì ông mới gả. Không cần giàu nghèo.” Ông chờ đợi tìm kiếm thời gian lau mà không gặp chàng trai nào đẹp trai ông gả con gái.

Một hôm, ông đi đường gặp Đức Phật. Ông thấy Đức Phật có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, da Phật vàng ánh như tượng vàng. Ông ngắm say sưa và về nói với bà vợ rằng con mình đã có người sánh đôi rồi. Bà hỏi là ai, ông trả lời, “Đức Phật Thế Tôn.” Bà vợ có tài coi dấu chân. Bà nói, “Theo dấu chân của Sa môn Cù Đàm thì Ngài là người đã ly dục, làm sao ông gả con gái?”

Ông nói, “Cứ đem đến rồi sẽ hay.”

Ông bảo bà và gia nhân trang điểm cô con gái thật là lộng lẫy, rồi dùng xe hoa đưa cô đến chốn Phật.

Khi đến nơi, ông quỳ xuống thưa, “Bạch đức Thế Tôn, con có một đứa con gái tới tuổi trưởng thành, sắc đẹp tuyệt vời. Và con có nguyện, nếu có chàng trai nào xinh đẹp như con gái con thì con sẽ gả con gái cho cậu, không cần giàu nghèo. Đức Phật Thế Tôn có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, rất đáng được con gái hầu hạ, nâng khăn sửa túi.”

Đức Phật dạy, “Con gái ông có thật sự xinh đẹp hoàn hảo không?”

Ông Bà La Môn trả lời, “Dạ, thật sự xinh đẹp, hoàn hảo.”

Phật dạy, “Dưới con mắt ông thì xinh đẹp, hoàn hảo. Nhưng dưới con mắt ta thì không xinh đẹp, hoàn hảo tý nào.

“Cái đầu giống như cái sọ dừa. Trên đầu có tóc giống như đuôi ngựa. Hai mắt trong xanh nhưng nhặm đổ ghèn. Chiếc mũi dọc dừa khi cảm thì chảy nước. Cái miệng môi hồng, răng trắng, thì khạc ra đàm dãi. Thân hình nở nang, cân đối, xinh đẹp chỉ là máu thịt gân xương tanh hôi. Còn trong bụng, tim gan tỳ phổi cũng nhơ nhớp. Nhất là bao tử chứa một thùng phân và thận chứa một bô nước tiểu. Những thứ này ra ngoài, chủ nhân của nó cũng nhờm gớm, huống là người khác.

Phật dạy, “Ông đem con gái về đi, ta không dùng đâu!”

Ông Bà La Môn thưa, “Nếu Phật không nhận, con dâng cho vua Ưu Điền có được không?”

Phật nói, “Cái đó thì tùy ông.”

Ông liền chở con gái ông đến dâng cho vua Ưu Điền.

Vua Ưu Điền sau khi nhận được người đẹp, đắm đuối yêu thương. Vua cất cung cho nàng ở, cung cấp nhiều cung nữ hầu hạ cô.

Qua lời thuyết pháp của Đức Phật, nếu cô là người có trí tuệ thì cô đã giác ngộ thân bất tịnh, nhơ nhớp của mình. Nhưng cô ngu si, lại tưởng Phật mắng cô. Cô rất tức giận Phật. Cô nghĩ, với sắc đẹp của cô thì có nhiều chàng trai giàu có, công tử, thái tử quỳ dưới chân cô để cầu sự yêu thương của cô. Thế mà Phật lại mắng cô thậm tệ. Phen này cô quyết báo thù Phật.

Khi cô được vua Ưu Điền sủng ái, đây là cơ hội tốt để cô trả thù Đức Phật. Cô mướn rất nhiều người đứng hai bên đường phố. Khi Phật và giáo đoàn của Phật đi khất thực, họ đã không cúng gì hết mà lại la mắng, chửi bới thậm tệ.

Ngài A Nan chịu không nổi, bạch Phật, “Bạch đức Thế Tôn, xin đức Thế Tôn đi nơi khác. Ở đây chỉ nhận toàn những lời chửi mắng mà thôi, họ không cúng gì.”

Phật dạy Ngài A Nan, “Nếu đi chỗ khác bị chửi mắng nữa thì sẽ đi đâu?”

Ngài A Nan trả lời, “Chúng ta lại đi đến nơi khác nữa.”

Phật dạy, “Phiền não sanh ở đâu thì phải diệt ngay ở đó. Nếu ta gặp khó, bỏ đi thì sẽ thì sẽ mất đất đứng. Việc này, một tuần lễ nữa sẽ hết.” Nghe lời Phật dạy, Ngài A Nan yên tâm.

Quả thật, người gieo gió thì phải gặt bão, người làm ác thì phải bị quả báo xấu ác . Cô con gái ông Bà La Môn được vua yêu quý nên lộng hành, ganh ghét các cung nữ nên mướn người đốt cung điện giết chết cung nữ. Khi điều tra ra thủ phạm chính là nàng, nàng phải bị xử trị theo luật pháp hiện hành, tức là bị thiêu sống. Nhưng nhà vua còn thương tình nên đày nàng vào lãnh cung để sám hối tội lỗi.

7. Giả Chửa Hủy Báng Phật

Sau khi Phật thành đạo, Phật thuyết pháp làm cho vua quan, các nhà giàu có và dân chúng đều theo quy y Phật. Các ngoại đạo lép vế, nên chúng tìm cách hạ uy tín Phật.

Các người Bà La Môn đến nói với cô gái Chiến Già là tín đồ của họ.Hàng ngày cô trang điểm xinh đẹp, ôm bó hoa đi về hướng tịnh xá Kỳ Hoàn. Lúc Phật tử nghe pháp xong, trở về thấy cô xinh đẹp, có người hỏi cô đi đâu thì cô lặng thinh, mỉm cười, trông có vẻ bí mật.

Một tháng sau nữa thì cô trả lời thẳng thừng rằng, “Tôi đến tịnh xá Kỳ Hoàn. Đức Thế Tôn là người yêu của tôi.” Khi cô đến trước cổng tịnh xá Kỳ Hoàn thì cô sẽ qua trụ xứ của ngoại đạo để nghỉ đêm.

Rồi một hôm, Phật đang thuyết pháp. Cô với 500 ông Bà La Môn đến. Cô đứng lên cắt ngang lời Phật. Cô nói, “Lời đức Thế Tôn nói thì hay lắm, nhưng việc làm của Ngài không tốt chút nào. Hôm nay em đã bụng mang dạ chửa mà đức Thế Tôn không ngó nghĩ gì hết. Nếu Ngài không làm gì thì giao em cho ông Cấp Cô Độc hay bà Tỳ Xá Khư lo liệu. Ngài thật là người bạc tình bạc nghĩa.” Năm trăm ông Bà La Môn liền mắng chửi Phật thậm tệ.

Đức Phật hỏi, “Này, Chiến Già, ngươi nói thật hay là vu khống? Chuyện này chỉ có ta và ngươi biết mà thôi.”

Cô Chiến Già trả lời, “Việc này chỉ có em và Thế Tôn biết mà thôi.”

Đế Thính thấy việc dối trá tráo trở của ngoại đạo liền hóa ra bốn con chuột, leo lên mình cô, cắn các dây chằng phía trong. Một khúc gỗ tròn và một cái gối rớt xuống trước mặt mọi người.

Cô Chiến Già quá hổ thẹn, liền chạy, chạy mãi và rơi xuống hố mà chết. Năm trăm ông Bà La Môn cũng liền chuồn mất.

Đau buồn ngay ở kiếp này
Kiếp sau cũng lại tràn đầy buồn đau
Người làm điều ác hay đâu
Buồn xưa theo mãi dài lâu bên mình
Quay nhìn việc ác tạo thành
Chết mòn thân xác, héo nhanh tâm hồn.

8. Giết Người Vu Khống Cho Phật

Các ngoại đạo, sau vụ Chiến Già độn bụng giả chửa vu khống cho Phật, đã bị thất bại. Chúng lại bày ra vụ khác.

Ngoại đạo đến nói với cô gái Tôn Đà Lợi là đệ tử của họ, nên hy sinh vì đạo. Cô nhiệt tâm vì đạo, nên đồng ý nghe theo.

Hằng ngày, cô thường trang điểm xinh đẹp, tay ôm một bó hoa đến cúng dường Phật và nghe pháp. Thời gian sau, ngoại đạo mướn người bí mật giết cô, rồi đem chôn trong vườn tịnh xá Kỳ Hoàn, gần đống hoa tàn.

Sau đó, ngoại đạo đến báo vua Ba Tư Nặc rằng họ có một tín nữ, thường đến nghe pháp tại tịnh xá Kỳ Hoàn, không biết tại sao bị mất tích, xin nhà vua cho quân lính đi với họ để tìm kiếm. Nhà vua nghi họ có âm mưu ác độc, nhưng cũng cho quân lính đi theo.

Ngoại đạo đi kiếm đông, kiếm tây, rồi vào vườn tịnh xá Kỳ Hoàn đào xác cô gái lên. Ngoại đạo la ó, hô hoán, khóc lóc. Họ đem xác cô gái để trên một chiếc xe, chở đi trên các đường phố, miệng rao nói, “Sa môn Thích tử gì mà hãm hiếp người, rồi giết chết đem chôn phi tang. Đạo gì mà hành động quá độc ác. Trời ơi là trời!”

Các Phật tử khi nghe tin này, chưa biết thế nào, liền đi đến tịnh xá Kỳ Hoàn để hỏi Phật. Phật dạy, “Các Phật tử hãy bình tĩnh. Việc này sau 7 ngày sẽ chết.”

Các Phật tử yên tâm ra về. Phật dạy chư tăng trong 7 ngày không đi khất thực.

Nghe Phật dạy như thế, nên vua Ba Tư Nặc nghi ngờ bọn ngoại đạo. Nhà vua cho thám tử đi điều tra. Bấy giờ, mấy người giết mướn chia tiền. Người thuộc kinh được nhiều tiền. Người thuộc kinh thì ít tiền. Do đó, những người được ít tiền đã nói, “Đã cùng giết người, tại sao người ít người nhiều?” Họ tranh cãi với nhau và đi tố cáo với nhà vua.

Nhà vua ra lệnh bắt hết đám ngoại đạo chủ mưu giết người, truy tố theo pháp luật hiện hành. Kẻ chủ mưu giết người thì phải bị đền mạng, còn những người tòng phạm thì bị phạt tù.

Thế mới biết, người gieo gió thì phải gặt bão, ác lai thì ác báo. Nhân quả rõ ràng, há không tin sao?

BBT Chánh Đạt Online tổng hợp

-----------------

Chú thích:

[1] Xem Buddha and the Gospel of Buddhism, trang 44-45; Buddhist Legends, quyển III, trang 70-72.

[2] Xem phần Lai Lịch Họ Gotama và Bộ Tộc Sakya trong sách này.

[3] Xem phần Lai Lịch Họ Gotama và Bộ Tộc Sakya trong sách này.

COMMENTS

.
Name

ăn chay,441,báo chí,1,biên khảo,13,cảm tác,120,câu chuyện đầu ngày,1,câu chuyện lửa tàn,1,chia sẻ,45,chủ đề khác,35,chưa phân loại,31,chương trình,1,chuyện ăn chay,50,chuyên môn,21,cộng đồng,14,cổng trại,6,Đạo Phật Ngày Nay,4,đi và viết,10,điểm sách,6,Diệu Hoàng,8,đố vui phật pháp,4,đời sống,116,du khảo,1,du lịch,55,Đức Phật A Di Đà,12,GĐPT,103,Giác Đạo,1,giáo dục gđpt,8,góc nhìn,13,gút (nút) dây,5,hành chánh - tổ chức,11,HĐXH,41,hoạt động,3,khoa học,9,kiến trúc,6,kinh chú,4,kinh điển,5,kỹ mỹ thuật,11,lam sử,5,lễ hội,3,mật thư,1,Minh Thi,1,món bánh,13,món chay,335,món chè,9,món chính,1,món mứt,2,mỹ thuật,54,NAL,116,nếp sống,150,nghệ thuật,263,nghi thức,8,nghiên cứu,41,Ngọc Hằng,7,người ăn chay,7,người đẹp,13,Nguyên Hiệp,1,nhân vật,4,nhiếp ảnh,1,pháp âm,82,Pháp Luân,59,pháp phục,6,pháp thoại,43,Pháp Uyển,4,phật đản - an cư,7,phật giáo,973,phật giáo thế giới,37,phật pháp,363,phật pháp & tuổi trẻ,1,phật pháp vấn đáp,39,phim nhạc,29,phóng sự,106,phóng sự ảnh,53,quán chay,12,sách gđpt,3,sách nói,5,sân khấu,1,sự kiện,85,sức khỏe,38,tài liệu,6,tâm tình lam,48,tạp chí pdf,3,tập san pdf,64,thắng cảnh,17,thánh tích,2,Thích Chơn Thiện,5,Thích Giác Nhiên,1,Thích Minh Châu,34,Thích Minh Thế,2,Thích Nhất Hạnh,1,Thích Nhật Từ,1,Thích Tâm Mẫn,25,Thích Trí Tịnh,3,thơ,42,thơ văn,153,thời sự,337,thông báo,17,thủ công trại,7,thư họa,17,thực tập hạnh phúc,21,thức uống,3,tiêu điểm,145,tìm hiểu,128,tin tức,186,tin tức gđpt,3,trại - lửa trại,2,Triệu Minh Thi,2,trình chiếu,3,truyện,15,truyện cổ phật giáo,22,truyền tin,5,tu học gđpt,4,tư liệu,3,tủ sách pdf,108,từ thiện,39,tự viện,31,văn hóa,82,văn nghệ gđpt,19,vu lan - báo hiếu,25,xuân - thành đạo,71,
ltr
item
Người Áo Lam: Hình ảnh bạo động và tinh thần từ bi, bất bạo động của Đức Phật
Hình ảnh bạo động và tinh thần từ bi, bất bạo động của Đức Phật
http://lh3.ggpht.com/-VFD9kIyAvBI/TuctjikhG0I/AAAAAAAAIBk/62PTzoxjag0/s1600/282548_1850224180716_1394075323_31590809_7826091_n%25255B9%25255D.jpg
http://lh3.ggpht.com/-VFD9kIyAvBI/TuctjikhG0I/AAAAAAAAIBk/62PTzoxjag0/s72-c/282548_1850224180716_1394075323_31590809_7826091_n%25255B9%25255D.jpg
Người Áo Lam
http://www.nguoiaolam.net/2011/12/hinh-anh-bao-ong-va-tinh-than-tu-bi-bat.html
http://www.nguoiaolam.net/
http://www.nguoiaolam.net/
http://www.nguoiaolam.net/2011/12/hinh-anh-bao-ong-va-tinh-than-tu-bi-bat.html
true
8680068194570582821
UTF-8
Loaded All Posts Not found any posts VIEW ALL Readmore Reply Cancel reply Delete By Home PAGES POSTS View All RECOMMENDED FOR YOU LABEL ARCHIVE SEARCH ALL POSTS Not found any post match with your request Back Home Sunday Monday Tuesday Wednesday Thursday Friday Saturday Sun Mon Tue Wed Thu Fri Sat January February March April May June July August September October November December Jan Feb Mar Apr May Jun Jul Aug Sep Oct Nov Dec just now 1 minute ago $$1$$ minutes ago 1 hour ago $$1$$ hours ago Yesterday $$1$$ days ago $$1$$ weeks ago more than 5 weeks ago Followers Follow THIS CONTENT IS PREMIUM Please share to unlock Copy All Code Select All Code All codes were copied to your clipboard Can not copy the codes / texts, please press [CTRL]+[C] (or CMD+C with Mac) to copy